Thử tính giá một giờ của 5 nghề phổ biến ở Việt Nam
Lương trên giấy dễ so sánh. Tỷ giá đời — tính cả di chuyển, chuẩn bị, hồi sức — cho một bức tranh khác hẳn. Dưới đây là năm ước tính, dựa trên giờ làm thật điển hình của từng nghề, không phải một cá nhân cụ thể.
Nhân viên văn phòng, lương 18 triệu. Giờ hành chính 8 tiếng, cộng khoảng 8 tiếng di chuyển và chuẩn bị mỗi tuần. Tỷ giá đời: khoảng 83 nghìn/giờ.
Shipper công nghệ, thu nhập 12 triệu. Giờ chạy xe thật thường vượt xa giờ “có đơn” — gồm cả thời gian chờ đơn, sạc pin, tìm địa chỉ. Tổng giờ làm thật có thể lên 65-70 tiếng/tuần. Tỷ giá đời: khoảng 43 nghìn/giờ — thấp nhất trong năm nghề, dù nhìn thu nhập tháng không phải quá thấp.
Giáo viên cấp 2, lương 11 triệu (bao gồm phụ cấp). Giờ đứng lớp chỉ là một phần — soạn giáo án, chấm bài, họp phụ huynh chiếm thêm 15-20 tiếng/tuần không được tính riêng. Tỷ giá đời: khoảng 58 nghìn/giờ.
Sale bất động sản, thu nhập trung bình 25 triệu (biến động theo tháng). Giờ làm việc dễ kéo dài vì khách hẹn cuối tuần, tối muộn. Tổng giờ thật có thể lên 55 tiếng/tuần, cộng thêm áp lực khiến giờ hồi sức cao. Tỷ giá đời: khoảng 95 nghìn/giờ — nhưng dao động mạnh giữa tháng có deal và tháng trắng tay.
Chủ quán cà phê nhỏ, lợi nhuận ròng 20 triệu/tháng. Giờ làm gồm cả quản lý, đặt hàng, đứng quầy giờ cao điểm — thường trên 70 tiếng/tuần, không có khái niệm ngày nghỉ trọn vẹn. Tỷ giá đời: khoảng 62 nghìn/giờ.
Điều đáng chú ý
Không phải nghề lương cao nhất có tỷ giá đời cao nhất. Sale bất động sản và nhân viên văn phòng thu nhập chênh nhau nhiều, nhưng tỷ giá đời gần nhau hơn hẳn so với khoảng cách lương — vì sale phải trả bằng nhiều giờ hơn để đạt được con số đó.
Shipper, dù thu nhập tháng không phải thấp nhất, lại có tỷ giá đời thấp nhất — vì tổng giờ làm thật cao hơn hẳn những gì “thu nhập/8 tiếng” thể hiện.
Muốn biết con số của chính bạn, không phải ước tính theo nghề, dùng công cụ ở bài đầu tuần này.